Tin Tức

Top 7 Chi tiết nghệ thuật đắt giá trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”

1


Hà Ngô

Căn buồng của Mị nằm

– Căn buồng ấy kín mít, có ô vuông bằng bàn tay. Hình ảnh đó giàu sức gợi, khiến người ta liên tưởng đến nhà tù, một thứ ngục thất đang giam hãm đời Mị. Đó là một không gian nhỏ bé, trơ trọi đối lập với cái mênh mông, rộng lớn của đất trời Tây Bắc.

– Chân dung số phận khổ đau của đời Mị được nhà văn khắc họa thật rõ nét: Mị sống câm lặng như đá núi “không nói”, lầm lụi,chậm chạp trợ lì như “con rùa” quẩn quanh nơi có cửa. Nếu ở trên, Mị có lúc tưởng mình là “con trâu Con ngựa” – Nhưng hình ảnh đó mới chỉ gợi nỗi khổ cực vì lao động vất vả thì hình ảnh “con rùa” có sức ám ảnh mang ý nghĩa về thân phận bị đè nén, bị bỏ quên. Mị mất hết ý niệm về không gian, thời gian: chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng. Cuộc sống của Mị không có sắc màu, âm thanh, không có cả ngắn dài thời gian, không chia biệt đêm ngày.

– Căn buồng ấy là biểu tượng cho ngục thất tinh thần, địa ngục trần gian giam cầm khát vọng sống, khát vọng tự do của đời Mị

– Nhà văn đã tố cáo sâu sắc chế độ cai trị miền núi đã đầy đọa con người, làm tê liệt quyền sống, quyền khao khát hạnh phúc của họ.

Căn buồng của Mị nằm
Căn buồng của Mị nằm
Căn buồng của Mị nằm
Căn buồng của Mị nằm


2


Hà Ngô

Nước mắt A Phủ

– Do sơ ý để hổ bắt mất bò, A Phủ bị thổng lí Pá Tra trói đứng, bỏ mặc cho đói rét suốt mấy đêm liền giữa kì sương muối khắc nghiệt ở Hồng Ngài, còn Mị sau bao năm bị đọa đày cùng cực cũng đã trở nên chai lì. Những đêm trước, tuy vẫn trở dậy thổi lửa, hơ tay, nhìn thấy A Phủ bị trói nhưng Mị chỉ dửng dưng, vô cảm. Đêm ấy, trong nỗi bất lực, bế tắc và hoàn toàn tuyệt vọng, A Phủ đã khóc, đúng lúc đó, Mị nhìn sang và bắt gặp dòng nước mắt của A Phủ

– Trực tiếp bộc lộ những cảm xúc: đau đớn, tuyệt vọng… trong hoàn cảnh cùng đường của A Phủ

– Tạo ra bước ngoặt quan trọng trong tâm lí nhân vật Mị

– Thúc đẩy xung đột truyện lên đến cao trào, là đầu mối của một loạt những hành động bất ngờ làm thay đổi cuộc đời các nhân vật, vừa tạo sự vận động, phát triển của tính cách nhân vật vừa tạo sự vận động cho cốt truyện.

– Góp phần thể hiện giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm

– Chi tiết này thể hiện biệt tài phân tích tâm lí nhân vật của Tô Hoài. Giọt nước mắt A Phủ chảy xuống, là giọt nước mắt của một chàng trai khỏe mạnh một chàng trai tưởng như không biết sợ là gì nhưng bây giờ lại khóc? “hai mắt A Phủ vừa mở, một dòng nước mắt bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” đó là giọt nước mắt vô cùng hiếm hoi mà ta tưởng như không thể ngờ tới. Giọt nước mắt ấy thể hiện một nỗi đau đến tột cùng đau đớn không chỉ bởi sự thít chặt của những sợi dây mây mà có lẽ còn là sự đáng thương A Phủ đang nghĩ tới số phận của mình. A Phủ khóc, nhưng đó không hẳn là sự khóc của cam chịu giọt nước mắt ấy là của con người nghĩa khí và quật cường, lấp lánh lên những hi vọng được sống khát khao được sống. Đó cũng là sự tố cáo tội ác của phong kiến lúc bấy giờ.

– Chi tiết giọt nước mắt A Phủ đã cho ta thấy cuộc sống và hoàn cảnh đáng thương của người dân lúc bấy giờ. Tố cáo chế độ phong kiến và nổi bật tư tưởng nhân đạo của Tô Hoài.

Nước mắt A Phủ
Nước mắt A Phủ
Nước mắt A Phủ
Nước mắt A Phủ

3


Hà Ngô

Nắm lá ngón

– Xuất hiện ba lần trong tác phẩm và chỉ gắn liền với nhân vật Mị – người con gái miền cao lương thiện, xinh đẹp, tài hoa nhưng cuộc đời nhiều bất hạnh.

– Mị – một cô gái miền cao đang tràn bung sức trẻ – ngay trong đêm tình hội xuân nồng nàn thì cuộc đời màu hồng chấm dứt. Cô bị trói gô như súc nô, bắt về nhà thống lí Pá Tra “cúng trình ma” như một món hàng. Người ta làm gì cuộc đời cô, thực sự lúc đó cô không biết, mãi cho đến lúc A Sử đứng trước mặt bố cô tuyên bố đã cúng trình ma, thôi thì cô đã là người nhà thống lí mất rồi! Một cú đánh ngã tự do, một cái rơi thật sự thẳng. Mị đi từ cuộc đời đẹp như trong tranh xuống hố sâu của địa ngục – nơi mà kẻ khác sống bằng âm thanh của tiếng than và hít thở hơi mùi máu, mà mỗi bước đi là một nỗi tủi nhục đến tột cùng. Mị sống không bằng chết, sống như một xác người trong kiếp cầm súc và rồi “có áp bức có đấu tranh”. Cô tìm về cha già, tay cầm nắm lá ngón. “Lá ngón” xuất hiện lần đầu tiên như một lối thoát đen. Đây là lối thoát ngắn và hữu hiệu nhất. Nhưng lại là lối thoát cho những ai muốn chấm dứt hiện tại nghiệt ngã chứ không phải lối thoát cho người muốn sang trang mới

– “Lá ngón” xuất hiện lần đầu tiên như một lối thoát đen. Đây là lối thoát ngắn và hữu hiệu nhất để thoát khỏi cuộc sống nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra. Tiếc rằng đây là lối thoát để chấm dứt hiện tại nghiệt ngã chứ không phải lối thoát để bước sang trang mới của cuộc đời Mị. Bởi vậy, chi tiết “lá ngón” gián tiếp cho thấy sự độc ác của giai cấp thống trị cũng như nỗi thống khổ của người dân lao động miền núi.

Quỳ lạy cha xong, nghe cha nói, Mị “bưng mặt khóc… ném nắm lá ngón xuống đất, nắm lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng”. Tự tìm đến lá ngón – độc dược của rừng xanh – đã là sự can đảm của Mị. Nhưng ném đi độc dược để tiếp tục sống khổ lại càng can đảm hơn. Đối với Mị, thà chết đi hơn sống nhục, nhưng rồi lại thà sống nhục còn hơn bất hiếu. Chính chữ hiếu là bản lĩnh cao đẹp nơi người con gái trẻ.

– Lá ngón xuất hiện lần 2 khi tác giả nhận xét về cuộc sống của Mị trong nhà thống lí Pá Tra sau khi cô cam chịu làm con dâu gạt nợ nhà giàu:

“Lần lần mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi”Lá ngón – cái chết giờ đây đã phai mờ trong tâm hồn Mị. Nếu như trước kia Mị tìm đến lá ngón để phản kháng lại thực tại sống thì nay Mị buông xuôi, cam chịu, không còn ý thức đấu tranh. Đây là điều đáng lo ngại cho đời sống tinh thần của Mị cũng chính là tội ác của giai cấp thống trị. Chúng dùng cường quyền, thần quyền cột chặt người lao động vào kiếp đời nô lệ, áp chế họ về tinh thần.

– Lần thứ 3: lá ngón xuất hiện trong ý thức của Mị vào đêm tình mùa xuân

– Những đêm tình mùa xuân đã đến. Thiên nhiên rạo rực, tiếng sáo “thiết tha bổi hổi” cộng thêm những bát rượu ấm, cay, nồng giúp Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ, từ vô thức dần lấy lại ý thức. Mị nhớ về quá khứ ngọt ngào, tự do, hạnh phúc “Mị uốn chiếc lá trên môi thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”. Mị đau đớn nhận ra thực tại: hôn nhân không có tình yêu “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi tết… A Sử với Mị không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” . Sự đối lập nghiệt ngã giữa quá khứ và hiện tại, giữa cuộc sống tự do và nô lệ thôi thúc Mị hướng đến sự giải thoát. Làm thế nào để giải thoát?… Và lá ngón xuất hiện một lần nữa. “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại chỉ thấy ứa nước mắt ra”. Như vậy, lá ngón lần này xuất hiện với ý nghĩa về sự tự ý thức của Mị. Vượt qua tình trạng sống phi thời gian trước đó, Mị đã ý thức được thời gian – không gian sống, nỗi đau của kiếp đời nô lệ cả về thể xác và tâm hồn.

Tóm lại chi tiết này mang ý nghĩa:

– Mang tầm ý nghĩa tố cáo cao độ: Sự dã man của xã hội ép buộc con người lương thiện đi tìm cái chết.

– Hiện thân cho nỗi thống khổ của nhân dân, cho những tích tụ đắng cay, đầy đau đớn và uất hận.

– Mang một tầng ý nghĩa nhân sinh tuy bản thân tượng trưng cho cái chết.

Nắm lá ngón
Nắm lá ngón
Nắm lá ngón
Nắm lá ngón

4


Hà Ngô

Tiếng sáo đêm xuân

– Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, tiếng sáo gọi bạn tình trở thành nét đẹp trong đời sống sinh hoạt và đời sống tinh thần của con người nơi đây. Tiếng sáo được nhà văn Tô Hoài khéo léo đưa vào ở phần giữa tác phẩm. Nó làm nên một iền không gian êm dịu, nên thơ thuộc về thế giới tâm hồn đẹp đẽ của con người.

– Tiếng sáo được miêu tả từ xa đến gần, với những cung bậc khác nhau: khi tiếng sáo lấp ló ngoài đầu núi, tiếng sáo văng vẳng gọi bạn đầu làng, tiếng sáo lửng lơ bay ngoài đường, trong đầu Mị , rập rờn tiếng sáo, tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi

– Là chi tiết có ý nghĩa tả thực về nét đẹp văn hóa của miền núi cao Tây Bắc, khiến người ta liên tưởng đến âm thanh quen thuộc, gần gũi của núi rừng trong những đêm xuân ở Hồng Ngài.

– Tiếng sáo mang đến chất thơ, làm dịu mát cuộc sống trăm đắng ngàn cay với nỗi đời Cơ cực của con người nơi đây, khiển mảnh đất Tây Bắc vốn xa lạ, hoang vu trở nên gần gũi, thơ mộng.

– Diễn tả vẻ đẹp tâm hồn Mị trong đêm tình mùa xuân. Tiếng sáo lay thức tâm hồn Mị, khiến lòng Mị thiết tha, bồi hồi, nhẩm thầm bài hát của người đang thổi và những kí ức đẹp đẽ nồng nàn của người con gái đã trở về. Tiếng sáo đã làm bừng lên khát vọng sống trong con người nhân vật Mị. Lần đầu tiên tiếng sao xuất hiện trong tác phẩm cũng là lần đầu tiên sau bao ngày dài câm nón ở nhà thống lí. “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát người đang thổi.”

– Chi tiết tiếng sáo như là chất xúc tác, làm thay đổi tâm lí nhân vật Mị, giúp người đọc nhận ra được sức sống tiềm tàng ở Mị, một sức sống mãnh liệt không gì hủy diệt được. Mị như được sống lại, và xuất hiện một sợi dây cảm xúc, sống với giai điệu và ý nghĩa bài hát của người đang thổi.

– Chi tiết tiếng sáo đêm tình mùa xuân giàu chất thơ, lai láng dư vị trữ tình có sức sống lâu bên trong tâm hồn người. Đây là chi tiết đắt giá giúp nhà văn Tô Hoài khám phá được nét đẹp tâm hồn Mị. Nhân vật Mị trong hoàn cảnh này cũng khiến người ta liên tưởng đến quá trình thức tỉnh của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao. Những nhà văn lớn thường là những nhà nhân đạo chủ nghĩa.

Tiếng sáo đêm xuân
Tiếng sáo đêm xuân
Tiếng sáo đêm xuân
Tiếng sáo đêm xuân

5


Hà Ngô

Những câu hát Mị nghe

– Những câu hát này Mị không nghe trực tiếp, nó là lời Mị tự “nhẩm thầm” khi nghe tiếng sáo. Và một điều không phải ngẫu nhiên: chúng đều là lời ca của những người đang yêu hoặc đang đi tìm tình yêu, thể hiện khát vọng tình yêu – đặc biệt là khát vọng tình yêu tự do (hãy chú ý từ thể chủ động: “ta đi tìm người yêu, cô gái không yêu có quyền từ chối bắt pao, cô có quyền lựa chọn: “em yêu người nào, em bắt pao nào”…). Trước khi về nhà thống lí, Mị từng có một thời tuổi trẻ say mê theo tiếng sáo, theo lời hát. Và Mị đã từng yêu. Mị về nhà thổng lí với thân phận con dâu gạt nợ, bị cầm tù trong một cuộc hôn nhân ép buộc: “A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau Chính những lời ca đẹp cùng với tiếng sáo, chứ không phải chỉ bản thân tiếng sáo – đã gọi về quá khứ hạnh phúc gắn với tình yêu, tuổi trẻ, từ đó thổi bùng dậy khao khát yêu và sống trong tâm hồn Mị. Làm phép giả định ngược lại, nếu đó chỉ là những lời ca buồn, tiếng than não nuột cho thân phận thì có thể nhận được đồng cảm nhưng chưa chắc đã làm bừng lên khát vọng sống trong nhân vật.

– Về nghệ thuật: cùng với tiếng sáo, những câu hát góp phần thúc đẩy, tạo bước ngoặt trong diễn biến tâm lí của Mị. Chúng cũng tạo nên sắc thái trữ tình, chất thơ cho tác phẩm. “Chất Tây Bắc” rất riêng của vợ chồng A Phủ không chỉ được gợi ra từ cảnh sắc thiên nhiên, phong tục, Con người… mà còn từ chính những lời ca như thế.

Những câu hát Mị nghe thấy
Những câu hát Mị nghe thấy
Những câu hát Mị nghe thấy
Những câu hát Mị nghe thấy

6


Hà Ngô

Sự xuất hiện của Mị ngồi quay sợi gai…

– Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pa Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. “Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.

– Người con gái Tây Bắc đâu chỉ làm chỉ làm những công việc nhẹ nhàng như “quay sợi gai”, dưới sự áp bức, bóc lột tàn nhẫn của bọn thực dân, chúa đất, người con gái ở đây còn phải làm những công việc nặng nhọc của cả đàn ông. Trong nhà thống lí Pá Tra, Mị chẳng những “quay sợi gai, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi”, mà còn “cõng nước dưới khe suối lên”. “Cõng nước”, hai tiếng ấy gợi ra cái tư thế khom lưng cúi người cõng ống nước to và nặng trên lưng. Phải chăng công việc này đã khiến bờ lưng người đàn bà ngày càng còng xuống, dáng đi lom khom, vì thế mà “lúc nào cũng cúi mặt”. Song, ám ảnh nhất trong đoạn văn này có lẽ là lúc nào “cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.

– Chỉ với hai câu văn giản dị ấy thôi, bản chất sự vật đã hiện lên khá rõ nét. Câu văn cũng như dài thêm ra để đọc giả lĩnh hội một cách thấu đáo. Vị trí của Mị xuất hiện đã nói lên tất cả “ngồi quay sợi bên tảng đá, cạnh tàu ngựa”. Còn hình ảnh nào đắt hơn chi tiết đó? Sự hiện diện song song giữa “cô gái – tàu ngựa – tảng đá” cho thấy sự ngang tầm giữa các chủ thể: “người và súc vật, súc vật và vô tri”. Hay đó cũng chính là ngụ ý của tác giả muốn nói đến cái xã hội đương thời. Cái thực tại xám xịt này là hệ luỵ của chế độ thực dân phong kiến thối tha, là kết cục bi thương của con người lành tính. Mị – một cô gái miền cao đang tràn bung sức trẻ – ngay trong đêm tình hội xuân nồng nàn thì cuộc đời màu hồng chấm dứt. Với cái cúi mặt và nét buồn rười rượi chứa đựng nhiều nỗi vất vả, người đọc như xót xa, cảm thông cho nhân vật nhưng cũng không khỏi tò mò về cuộc đời của người phụ nữ ấy.

Sự xuất hiện của Mị ngồi quay sợi gai...
Sự xuất hiện của Mị ngồi quay sợi gai…
Sự xuất hiện của Mị ngồi quay sợi gai...
Sự xuất hiện của Mị ngồi quay sợi gai…

7


Hà Ngô

Chi tiết cúng trình ma

– Vợ chồng A Phủ là kết quả chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952. Hiện thực cuộc sống cực nhục, tối tăm của người dân Tây Bắc được tái hiện chân thực, rõ nét trong phần đầu tác phẩm.

– Cuộc sống của hai nhân vật chính là Mị và A Phủ ở nhà thống lí Pá Tra thực sự là cuộc sống như trâu như ngựa. Ngoài việc chịu áp lực thể xác, làm việc suốt ngày đêm, họ còn chịu sự áp bức về tinh thần với sự ám ảnh của con ma nhà thống lí.

– Vì tội đánh A Sử, A Phủ bị bắt về xử kiện. Đó là vụ kiện lạ lùng, đám xử kiện nằm dài bên khay đèn, mấy chục người hút từ sáng đến trưa, đến hết cả đêm. Bọn trai làng bắt A Phủ quỳ giữa nhà và đánh. Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi lại hút…Càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút. Đến sáng hôm sau thì đám kiện đã xong.

– Thống lí Pá Tra mở tráp, lấy một trăm đồng bạc hoa xòe bày lên mặt tráp, rồi kể các khoản tiền A Phủ phải nộp: Nộp vạ cho người phải mày đánh là hai mươi đồng, mỗi xéo phải hai đồng, mỗi người đi gọi các quan về hầu kiện năm hào. Mày phải mất tiền mời các quan hút thuốc từ hôm qua tới nay. Lại mất con lợn hai mươi cân, chốc nữa mổ để các quan ăn vạ mày.

– Sau đó, thống lí cho A Phủ cúi sờ lên đồng bạc trên tráp còn mình đốt hương lầm rầm khấn gọi ma về nhận mặt người vay nợ. Pá Tra khấn xong, A Phủ cũng nhặt xong bạc, nhưng nhặp xong lại để ngay cả xuống mặt tráp. Rồi Pá Tra lại trút cả bạc vào trong tráp.

– Từ đây, A Phủ đã bị trói vào con ma nhà thống lí. A Phủ không phản kháng, không bỏ trốn. A Phủ chính là nạn nhân của sự áp bức tàn bạo của chế độ cường quyền và thần quyền. Không chỉ riêng A Phủ, con ma nhà thống lí là nỗi ám ảnh đối với Mị. Ngay sau khi cướp Mị về, A Sử đem về cúng trình ma trong nhà. Kể từ đây, Mị sống kiếp trâu ngựa. Cuộc sống câm lặng lùi lũi như cơn rùa nuôi trong xó cửa, chấp nhận đêm bị trói đứng, khắp người là dây trói thịt chặt, đau nhức.

– Đối với người H Mông trước đây, ma là thế lực thần quyền đáng sợ. Nó làm cho con người trở nên mê muội, tê liệt về ý thức và quyền sống. Bọn Thống lí đã lợi dụng thần quyền làm phương tiện áp bức của cường quyền.

– Phản ánh nỗi thống khổ của người dân miền núi Tây Bắc dưới ách áp bức của bọn thực dân chúa đất, Tô Hoài đã lựa chọn được một chi tiết đặc sắc. Con ma nhà thống lí không chỉ là nỗi ám ảnh trong người đọc mà còn là ám ảnh nghệ thuật. Tục cúng trình ma chính là một trong những sợi dây tóc phát sáng trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.

Chi tiết cúng trình ma
Chi tiết cúng trình ma
Chi tiết cúng trình ma
Chi tiết cúng trình ma

0/5 (0 Reviews)

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button